Home / Văn 12 / Bình giảng bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi

Bình giảng bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi

Đề bài: Bình giảng bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi.

Bài làm

“Đất nước” là một bài thơ góp phần làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Thi trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Bài thơ là lời tự bạch của tác giả về cả cảnh thu xưa và nay có sự thay đổi như thế nào, hay đó cũng là sự thay đổi của đất nước ta trước sự xâm lược của thực dân Pháp nhưng vẫn đứng dậy đấu tranh để bao vệ độc lập . Thông qua đó, nhà thơ bày tỏ tình yêu đất nước, lòng căm thù giặc, niềm tự hào, niềm tin son sắt vào tương lai tươi sáng của dân tộc và đất nước.

    Nguyễn Đình Thi sáng tác bài thơ Đất nước bắt đầu từ năm 1948 và hoàn thành vào năm 1955, sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Bài thơ gồm hai phần. Phần đầu được hình thành trên cơ sở những đoạn trích từ hai bài “Sáng mát trong như sáng năm xưa” (1948) và “Đêm mít tinh” (1949). Phần sau được viết năm 1955. Đất nước được nhìn qua một không gian – thời gian độc đáo: mùa thu với mốc son lịch sử là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tuy được viết trong những thời gian khác nhau nhưng cảm hứng thơ vẫn liền mạch và bài thơ là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh.

Bài thơ chia làm hai đoạn: đoạn thứ nhất từ đầu đến “…vọng nói về”, đoạn thứ hai là phần còn lại. Mạch cảm xúc và suy tưởng cũng là kết cấu cơ bản của bài thơ. Khởi đầu là cảm xúc về một sớm mùa thu ở chiến khu Việt Bắc gợi nhớ về mùa thu đã xa của Hà Nội. Hình ảnh mùa thu ấy không thể nào quên được, cảm xúc mùa thu xưa khiến tác giả nhớ về mùa thu hiện tại. Cảm xúc nâng cao, mở rộng về đất nước trong đau thương, căm hờn đã vùng lên chiến đấu bất khuất và chiến thắng vẻ vang : “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”

Bài thơ mở ra bắt đầu bằng một sáng mùa thu hiện tại ở chiến khi Việt Bắc, ấy là một sáng thu tiết mát lành trong trẻo và thoảng thương hương cốm:

                                “Sáng mát trong như sáng năm xưa

                                  Gió thổi mùa thu hương cốm mới

                                  Tôi nhớ những ngày thu đã xa”

Cách mở đẩu rất tự nhiên, giản dị như một lời kể chuyện, một lời tâm sự, bộc bạch. Tác giả thấy buồi sáng “ mát trong” giống như buổi sáng “năm xưa”. Từ cái cảm xúc thanh bình và thân thuộc đó thì đã cho nhà thơ chất “xúc tác” để nhớ lại kỉ niệm ấy. Chỉ bằng vài nét gợi tả mà tác giả đã thể hiện được không gian, thời gian, màu sắc, hương vị của mùa thu : không khí mát trong, gió thổi phảng phất mùi hương cốm mới, kết tinh của hương vị đất trời, cây cỏ mùa thu cái đặc trưng riêng của mùa thu Hà Nội đặc biệt là hương cốm mới:

                                       “ Ra đi nhớ cốm làng Vòng

                                 Nhớ cau Nam Phổ, nhớ trầu chợ Dinh”

Cái cảm xúc của mùa thu ấy nó cứ quẩn quanh trong đầu khiến Nguyễn Đình Thi không thể nào quên nổi.Vậy là tính hiệu mùa thu không còn những hình ảnh ước lệ tượng trưng nư ngô đồng rụng, sen tàn, giếng ngọc,…mà là một vị dân gian đã quen thuộc từ ngàn đời.Câu thơ giản dị làm tăng cái ý nghĩa của sự thanh bình bình thường ấy. Và sự bình dị của đoạn đầu sẽ làm tăng sức biểu cảm của những hình ảnh tiếp theo:

                                “ Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

                                   Những phố dài xao xác hơi may”

Mùa thu là mùa nhạy cảm với thi nhân, có không ít nhà thơ viết về mùa thu:

                                 “ Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

                                    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”

                                                     (Nguyễn Khuyến)

Hay trong “Thơ duyên” của Xuân Diệu cũng có viết:

                               “ Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá, 
                                  Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền.”

Đến với khổ thơ tiếp theo này thì nhịp điệu chậm rãi, tràn đầy nhung nhớ. Nguyễn Đình Thi lại nhắc lại hình ảnh “sáng”. Nhưng ánh thu Hà Nội của hiện tại đẹp mà buồn, gợi bao sự thương nhớ. Cái giá lạnh mỗi khi thu về vào buổi sáng sớm, cái đặc sắc ở đây là “lòng Hà nội”. Đó chính là chỉ không khí của mùa thu đã đi sâu và từng con phố dài của Hà nội và sự kết hợp với đảo gữ “ xao xác heo mây” – âm thnah nhẹ nhàng và từ láy “xao xác” tạo nên nỗi tâm sự đong đầy. Hình ảnh gió xao xác với con phố dài nó cuốn, thu hút con ta vào tận sâu thẳm.Về mặt ngữ nghĩa, những hình ảnh trên không chứa đựng vẻ đẹp của Hà Nội, nhưng khi đọc hai câu thơ ta vẫn cảm nhận được vẻ đẹp đắm sâu của thủ đô, trái tim của cả nước. Phải yêu Hà Nội, hiểu Hà Nội mới có thể cảm nhận được cái xao xác hơi may, cái chớm lạnh giữa thành phố này, yên ắng, trong lành, phảng phất những mơ hồ. Hình ảnh người ra đi lạng lẽ, trĩu nặng tâm tư tình cảm nhưng đầy cương quyết dứt khoát.

Đoạn thơ là bức tranh thu đượm buồn, nổi lên trên cái nền ấy là hình ảnh người ra đi lặng lẽ, trĩu nặng tâm tư. Nét tâm trạng này cũng đã được ngân lên trong ca khúc rất nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã viết về Hà Nội:

                             “Người Hà Nội hôm nay ra đi
                               Mang theo mình bao nhiêu nỗi nhớ
                               Những ánh đèn qua ô cửa sổ
                               Bầu trời đêm cháy bỏng tình yêu.”

                                           (Hà nội – trái tim hồng)

Có người nói, hình ảnh của Hà Nội đã thu lại trong câu thơ cuối: “thềm nắng lá rơi đầy”. Câu thơ đẹp và giàu sắc thái thẩm mĩ. Bức tranh thu Hà Nội thấm đầy nắng, gợi nên sắc thái quyến rũ trong tâm trí người ra đi. Mà có khi làm sao mà đi nổi khi một Hà Nội đẹp thế, quyến rũ như thế cứ níu chân chẳng cho đi, làm sao không khỏi mềm lòng.

Mùa thu đẹp đấy nhưng tại sao khi thu sang con người ta lại thấy buồn?Có lẽ người ta sẽ quay đầu lại luyến tiếc, buồn bã khi phải bỏ lại mãi mãi một vật, một nơi, hay một con người thân thiết đối với mình, nhưng khi con người đó tin rằng sự ra đi đó chỉ là nhất thời và dự cảm được ngày trở về sẽ rất gần thì hoàn toàn không cần thiết phải ngoảnh lại, phải lưu luyến. Đó là tâm lý hết sức tự nhiên của con người. Lớp trí thức trẻ đã có một niềm tin mãnh liệt vào ngày toàn thắng, hơn nữa ngày đó chắc chắn sẽ đến rất nhanh và họ sẽ có cơ hội trở về quê hương. Sự ra đi đầu không ngoảnh lại không chứa đựng sự cô đơn, tuyệt vọng của sự ra đi trong “Tống biệt hành”  của Thâm Tâm :

                                “Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
                                  Một giã gia đình, một dửng dưng…
                                 -Ly khách!Ly khách! Con đường nhỏ
                                  Chí lớn không về bàn tay không”

mà nó chứa chan niềm tin vào một ngày mai tươi sáng. Chỉ trong 1 hình ảnh ấy, Nguyễn Đình Thi đã tạo nên một nềm tin vững mạnh. Và niềm tin đó đã được chứng minh bằng hiện thực CM sống động. Hoà bình trở lại và những người con nay lại trở về. Cảnh sắc thiên nhiên đất nước thật tươi vui, sáng mát, như trẻ lại, như hồi sinh. Nếu mùa thu hồi trước xao xác gió hơi may buồn thì mùa thu nay gió đã chuyển mình thành cơn gió thổi rừng tre phấp phới, một cơn gió thu phóng khoáng và mạnh mẽ tưởng như chưa từng có trong thơ ca Việt Nam trước đây. Nếu năm xưa lá rơi đầy thềm nắng phố Hà Nội thì nay cả bầu trời thu Việt Bắc xanh biếc tươi vui Nguyễn Đình Thi đã tạo ra 1 niềm tin thật mãnh liệt.

                                     “ Mùa thu nay khác rồi

                                       Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

                                       Gió thổi rừng tre phấp phơi

                                       Trời thu thay áo mới

                                       Trong biếc nói cười thiết tha”

Mùa thu nay con người đang lặng lẽ giã từ những con phố dài hiu quạnh của Hfa nội tạm chiếm bya lượn giữa một không gian thoáng rộng của núi đồi, của trời xanh bát ngát. Nếu mùa thu xưa bao chùm lầ nỗi buồn thì mùa thu nay là niềm vui, sự thay đổi ấy được kết bằng hình ảnh “ mùa thu tháy áo mới”. Câu thơ như một tiếng reo vui. Mùa thu với ngọn gió tự do, phóng khoáng đnag ào ạt thổi. Mùa thu với tấm áo mới tươi đẹp ,với ngọn gió mát lành mạnh mẽ đnag náo nức say mê trong niềm vui lớn của cả dân tộc, của cả đất nước.

dat-nuoc-nguyen-dinh-thi
Đất nước – Nguyễn Đình Thi

Mùa thu như được nhân hóa. Và người đọc cảm thấy mùa thu như một thiếu nữ điệu đà, thướt tha đang khoác tấm áo mới rạng rỡ, tươi tắn và dịu dàng. Phải chăng tấm áo ấy là của sự độc lập, tự do của dân tộc.Cuộc sống đã thay đổi hoàn toàn. Không chỉ mùa thu trong biếc mà chính cái hiện thực ấy, chính cái cuộc sống mới ấy thật đẹp, thật trong suốt. Và con người trong cuộc sống ấy đang tự do nói cười thiết tha trong nỗi vui mừng quê hương vừa được giải phóng, mùa thu năm 1945 cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa.

Từ cảm xúc về mùa thu đất nước dẫn đến tình cảm mến yêu tha thiết và lòng tự hào về đất nước, nhà thơ ngắm nhìn cảnh vật với tâm hồn phơi phới lạc quan, yêu đời. Niềm vui tràn ngập lòng người, tràn ngập đất trời. Đoạn thơ với nhịp điệu rộn ràng, hào hứng và những hình ảnh đẹp đẽ, tươi mát đã thể hiện vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của đất nước thân yêu. Nhà thơ như reo như hát lên niềm hạnh phúc bất tận ấy:

                                  “Trời xanh đây là của chúng ta

                                     Núi rừng đây là của chúng ta

                                     Những cánh đồng thơm mát

                                     Những ngả đường bát ngát

                                     Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

 Nhịp thơ cuồn cuộn mãnh liệt khác hẳn sự tinh tế ở những khổ đầu. Hình ảnh nối tiếp hình ảnh, nhạc điệu rộn ràng, âm hưởng khoáng đạt, lời thơ trải dài như vô tận. Đất nước của chúng ta, đất nước với  chiều dài, chiều rộng, chiều sâu và màu sắc dễ cảm. Điệp khúc “là của chúng ta” cứ ngân nga, vang vọng giữa đất trời, sông núi. Tất cả những gì thân yêu, quen thuộc trên đất nước này đều là của chúng ta. Niềm tự hào làm chủ trời xanh, cánh đồng, núi rừng, dòng sông, làm chủ đất nước. Còn gì sung sướng hơn, tự hào hơn bốn tiếng ấy sau hàng trăm năm nô lệ, dân tộc ta phải đổ bao xương máu mới giành được quyền làm chủ. Cũng nguồn cảm hứng say sưa, dạt dào như thế, nhà thơ Tố Hữu đã thốt lên:

                                   “Của ta trời đất đêm ngày

                                    Núi kia, đồi nọ, sống này của ta !”

                                                     (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên).

Từ việc cảm nhận đất nước theo chiều không gian với niềm tự hào được làm chủ đất nước, tác giả chuyển sang cảm nhận đất nước theo chiều thời gian với niềm tự hào truyền thống anh hùng bất khuất.

                                  “ Nước chúng ta

                                     Nước những người chưa bao giờ khuất

                                     Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

                                     Những buổi ngày xưa vọng nói về”

Nhịp thơ bỗng thay đổi, mang xúc cảm trầm lắng, ẩn chứa thái độ thành kính thiêng liêng, hướng người đọc trở về quá khứ lịch sử của quê hương. 
Khi con người ta vui mừng, hân hoan về một chiến thắng thì bao giờ, sau đó cũng sẽ là những giây phút trầm mặc suy nghĩ về cái giá của chiến thắng đó. Suốt chiều dài lịch sử bốn ngàn năm, trải qua bao phen chống ngoại xâm, có thắng có bại nhưng đất nước này, dân tộc này chưa bao giờ khuất phục trước bạo lực của quân thù. Truyền thống bất khuất ấy truyền từ đời này sang đời khác. Nhà thơ lắng nghe tiếng nói quật cường vọng lên từ lòng đất. “Đất”, qua tâm hồn nhà thơ và tâm hồn chúng ta, không chỉ xanh tốt những vạt rừng, thơm mát những cánh đồng, bát ngát những ngả đường, đỏ nặng phù sa của những dòng sông mà còn “rì rầm” tiếng nói đấu tranh bao đời không bao giờ tắt “ vọng nói về”. Câu thơ trở nên trang trọng, trầm lắng khi nói đến tiếng vọng thiêng liêng của ngàn xưa rì rầm trong tiếng đất.

Cũng với cảm nhận về đất nước theo chiều dài truyền thống lịch sử Chế Lan Viên từng viết:

                             “Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc 
                               Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn 
                               Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc 
                               Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…”

                                                 (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng)

Từ những vần thơ ấy đã làm sáng bừng lên  chân lí trong thơ của Nguyễn Đình Thi

                                 “ Nước chúng ta

                                    Nước những người chưa bao giờ khuất”

Có thể nói ít có hình ảnh nào thể hiện nỗi đau thương tang tóc của dân tộc và đất nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lại cô đọng, hàm súc và gây ám ảnh sâu sắc như những hình ảnh trong hai câu thơ:

                                “ Ôi cánh đồng quê chảy máu

                                   Dây thép gai đâm nát trời chiều”

 Đạn bom quân thù cày nát mặt đất, triệt hạ sự sống. Ánh hoàng hôn đỏ hắt xuống khiến những cánh đồng quê như chảy máu. Hàng rào dây thép gai quanh đồn bốt giặc tua tủa chĩa lên như muốn đâm nát trời chiều vốn tĩnh lặng, bình yên. Cả hai chiều không gian đều in đậm bóng dáng sự tàn phá, chết chóc của chiến tranh. Từng chữ, từng câu thơ oằn nặng bởi cảm xúc đau thương, căm giận. Đọc thơ, người đọc như thấy trước mắt mình là cả hiện thực khốc liệt của những năm tháng khổ đau một cách tường tận và chi tiết. Ngòi bút của Nguyễn Đình Thi như một máy quay phim tài ba và đặc biệt giúp cho người đọc nhận ra một bức tranh ngập đầy máu của chiến tranh. Trên cái nền hiện thực ấy thì người chiến sĩ:

                                  “Những đêm dài hành quân nung nấu

                                    Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”

Đó là tâm trạng cháy bỏng yêu thương nhân dân và “nung nấu” căm hờn quân cướp nước. Mối căm thù sôi sục trong tim, thôi thúc những đêm dài hành quân không nghỉ. Mối căm thù dồn lên mũi lê, đầu súng nhằm thẳng quân thù. Nhưng chính lúc ấy cũng thấp thoáng hiện lên trong nỗi nhớ “đôi mắt” của “người yêu” chờ đợi khiến tâm hồn chiến sĩ ta bồn chồn, xao xuyến.

  Hay nhất trong phần sau của bài thơ có lẽ là khổ thơ này. Phải là người từng trải, có vốn sống phong phú và trái tim dạt dào tình cảm nhân ái thì tác giả mới có cách diễn đạt tự nhiên về sự hài hòa giữa tình cảm riêng chung, giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu đất nước của người chiến sĩ.

Và ở khổ thơ tiếp, Nguyễn Đình Thi đã lí giải sâu xa về sức sống, tinh thần ý chí chiến đấu của người dân:

                                “Từ những năm đau thương chiến đấu

                                  Đã ngời nên nét mặt quê hương

                                  Từ gốc lúa bờ tre đôn hậu

                                  Đã bật lên những tiếng căm hờn”

Câu thơ ngắt nhịp khỏe, rắn rỏi, thể hiện sâu sắc niềm tự hào, kiêu hãnh của tác giả về sức sống và vẻ đẹp của cả dân tộc. Từ “ngời” và “bật” được dùng rất hay, sự trỗi dậy, hồi sinh kỳ diệu, sự tỏa sáng, sức sống của dân tộc. Nguyễn Đình Thi đã sáng tạo 1 bài thơ hết sức đặc biệt khi cảm xúc trong bài thơ không chảy theo 1 nhịp thống nhất mà liên tục biến đổi. Ta biết rằng: thơ 7 chữ thì biểu lộ cảm xúc cá nhân, thơ 5 chữ thì cảm xúc mỏng hơn và thiên về nhịp điệu, thơ 6 chữ thì được sử dụng nhẳm khẳng định 1 ý tưởng. Trong bài thơ này, thơ 6 chữ được tác giả sử dụng đạt hiệu quả rất cao.

                                 “Bát cơm chan đầy nước mắt

                                   Bay còn giằng khỏi miệng ta

                                   Thằng giặc Tây thằng chúa đất

                                   Đứa đè cổ đứa lột da”

Nỗi đau xót như thấm sâu vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh tiêu biểu tạo nên ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Đặc biệt hình ảnh “Bát cơm chan đầy nước mắt”,  “Bay còn giằng khỏi miệng ta” nói lên tột cùng tội ác của quân thù và tột cùng sự tủi cực của nhân dân ta trong vòng nô lệ. Cách xưng hô đối lập giữa một bên là chính nghĩa: ta, cùng với một bên là sự phi nghĩa: bọn thằng, đứa… như bao căm thù và uất hận được dồn lại. Ngôn ngữ giản dị như khẩu ngữ truyền tải nội dung căm hận sâu sắc, cực tả sự áp bức bóc lột dã man đến tận xương tuỷ của bọn giặc xâm lược cùng bọn địa chủ tay sai đang thống trị từng ngày trên nước mắt, mồ hôi của nhân dân. Cắt ngắt nhịp (2 câu đầu là 2/2/2, 2 câu sau là 3/3) thể hiện sự đau uất, căm hờn.

                                   “Xiềng xích chúng bay không khóa được

                                    Trời đầy chim và đất đầy hoa

                                    Súng đạn chúng bay không bắn được

                                    Lòng dân ta yêu nước thương nhà”

Nhịp thơ mạnh mẽ, đanh thép làm cho câu thơ trở nên giàu sức biểu tượng. Sự đối lập giữa hai hình ảnh thơ “xiềng xích” và “trời đầy chim, đất đầy hoa” đã thể hiện tinh thần lạc quan của nhân dân, khí phách anh hùng của dân tộc bất chấp sự tàn khốc của chiến tranh và quân thù. Thể hiện sự tin tưởng vào chiến thắng sau này. Nỗi đau đớn xót xa hoà lẫn lòng căm thù ngùn ngụt khiến đoạn thơ có sức truyền tải và tố cáo mãnh liệt, lột tả rõ nét nguyên nhân cho sức mạnh vùng lên của dân tộc.

                            “Khói nhà máy cuộn trong sương núi

                              Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng

                              Ôm đất nước những người áo vải

                              Đã đứng lên thành những anh hùng”

Hình ảnh độc đáo, sáng tạo thể hiện không khí sôi động, sùng sục của nhân dân trong kháng chiến. Núi rừng trước kia chỉ có sương núi, nay đã thấy khói nhà máy cuộn không gian, cánh đồng trước kia chỉ có tiếng mõ nay đã nghe văng vẳng những tiếng kèn gọi quân. Hai hình ảnh sóng đôi rất ý nghĩa: một xây dựng đất nước ở miền Bắc, một bảo vệ đất nước ở miền Nam. 2 miền đất nước dẫu bị ngăn cách nhưng dường như vẫn đang cùng 1 nhịp thở. Từ thực tế kháng chiến gian nan và hào hùng, Nguyễn Đình Thi đã viết nên những câu thơ khái quát về sự mất mát, hi sinh của đất nước cùng quyết tâm giành lại chủ quyền độc lập tự do của dân tộc ta. cả dân tộc đoàn kết thành một khối thống nhất, trán đẫm mồ hôi và mắt ngời hi vọng, rắn rỏi mạnh mẽ bước tới tương lai:                         

                              “Ngày nắng đốt theo đêm mưa giội

                               Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh

                               Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

                               Lòng ta bát ngát ánh bình minh”

Nơi vùng núi Thượng Lào với ban ngày nắng như thiêu đốt và đêm đến lại những cơn mưa ào ào như thác đổ, thiên nhiên khắc nghiệt dễ sinh bệnh tật đau ốm, nhưng người lính đã vượt qua tất cả những gian khổ đó. “Cháy rực”, “bát ngát”, “trời đất mới”, “bình minh”… là những hình ảnh kỳ diệu mà quê hương họ sẽ đến và phải đến. Nơi ấy có tự do, có niềm vui, có những cánh đồng bát ngát, có những dòng sông đỏ nặng phù sa, nơi ấy là nơi con người tự do yêu thương và sống bên nhau. Nhân dân ta đứng dậy giữ nước không chỉ bằng sức mạnh tình cảm mà còn bằng sức mạnh lí trí, có ánh sáng cách mạng soi dường và niềm tin vào tương lai tươi sáng.

                                 “Súng nổ rung trời giận dữ

                                   Người lên như nước vỡ bờ

                                   Nước Việt Nam từ máu lửa

                                   Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.”

Âm hưởng hào hùng, sảng khoái của đoạn thơ được tạo nên từ thể thơ sáu chữ với tiết tấu nhanh, mạnh, dồn dập cùng với hàng loạt hình ảnh đậm chất anh hùng ca lấy từ thực tế của chiến trường Điện Biên Phủ ác liệt mà nhà thơ đã trực tiếp tham gia và được tận mắt chứng kiến: “Tổ trông thấy các anh – Nguyễn Đình Thi kể – mình mẩy đầy bùn, nhưng khi nhảy lên trên mặt đất, các anh hiện lên chói lòa trong ánh nắng”. Tác giả đã tạo nên hình tượng thơ đẹp đẽ, hào hùng từ hình ảnh rất chân thực: trong máu lửa, bùn lầy, giữa tiếng đại bác rền vang rung trời chuyển đất, chiến sĩ ta từ các chiến hào ào ạt xông lên như nước vỡ bờ. Hình ảnh của họ nổi lên trên nền trời như một tượng đài kì vĩ của chủ nghĩa yêu nước và anh hùng cách mạng.

Đến tận cuối bài thơ, tác giả mới gọi tên Việt Nam với sự tự do, tự chủ, sự kiêu hãnh. Ông cảm nhận được hình ảnh đất nước trong lòng.

Từ máu lửa và bùn đen đã bật dậy và sáng lòa, rực rỡ huy hoàng. Câu thơ giàu giá trị biểu tượng và tính khái quát, cộng với tính nghệ thuật rất cao. Nhịp thơ 2/2/2. Vận động khỏe khoắn, sự vươn lên của dân tộc bởi một sức sống kì vĩ và bất tử.

     Bài thơ kết thúc bằng ánh sáng, thể hiện niềm tin và khát vọng mạnh mẽ, vinh quang. Đất nước đã ghi lại và vẽ nên một hình ảnh đất nước Việt Nam với bao thăng trầm, khói lửa để đến được ngày độc lập. Đất nước xứng đáng dược coi là cuốn biên niên sử nước ta bằng thơ. Đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sử thi và sáng tạo nghệ thuật tài năng của Nguyễn Đình Thi.

Bài nên xem

tay-tien

Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! (…) Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng. “Sông …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Copy Protected by Chetan's WP-Copyprotect.