Home / Văn 11 / Bình giảng về đoạn văn sau trong truyện ngắn “Chữ người tù” của Nguyễn Tuân

Bình giảng về đoạn văn sau trong truyện ngắn “Chữ người tù” của Nguyễn Tuân

Đề bài: Bình giảng về đoạn văn sau trong truyện ngắn “Chữ người tù” của Nguyễn Tuân: “Tiếng trông canh thành phủ gần đấy đã bắt đầu thu không. Trên bốn chòi canh, ngục tốt cũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời tối mịt, những tiếng kẻng và mõ đều đặn thưa thớt. Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ sương, vẳng từ một làng xa đưa lại mấy tiếng chó cắn ma. Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời lõm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống phía chân trời không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bây nhiêu âm thanh phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”. (Văn lớp 11)

Bài làm

Đọc “Chữ người tử tù” ta càng thấm thía điều mà Vũ Ngọc Phan đã nói: “… văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thường thức”. Nghệ thuật kể chuyện, cấu trúc tình tiết, lời thoại và độc thoại, khắc họa tính cách nhân vật,… hầu như không có một chi tiết nào thừa. Ba nhân vật cùng đồng thời xuất hiện. Cảnh cho chữ là cao trào, một canh tượng xưa nay chưa từng có. Tất cả đều hướng về cái tài, cái đẹp, cái thiên lương. Nguyễn Tuân đã sử dụng một loạt từ Hán Việt rất đắt (pháp trường, tử tù, tử hình, nhất sinh, bộ tứ bình, bức trung đường , lạc khoản, thiên hạ, thiên lương, lương thiện, V.V…) tạo nên màu sắc lịch sử, cổ kính, bi tráng. Đúng Nguyễn Tuân là bậc thầy về ngôn ngữ, rất lịch lãm uyên bác về lịch sử, về xã hội. Hai câu văn: “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” và: “Kẻ mê muôi này xin bái lĩnh” – đẹp như một bức châm trong các thư hoạ nghìn xưa lưu lại, cũng là bài học làm người sáng giá! Đoạn văn nằm ở phần mở đầu tác phẩm, sau cuộc trò chuyện của ngục quan và thầy thơ lại về Huấn Cao. Đấy là bức tranh của nhà tù tỉnh Sơn đêm trước khi Huấn Cao vào trại giam. Đoạn văn thể hiện bút lực già dặn bậc thầy của Nguyễn Tuân trong việc tả cảnh ngụ tình, hé mở cho người đọc về con người thật của viên quản ngục, góp phần khẳng định sức tỏa sáng của hình tượng Huấn Cao giữa chốn ngục tù tăm tối.

Khung cảnh nhà tù tỉnh Sơn hiện lên trong không gian tối mịt với những âm thanh quen thuộc vọng lên chút sự sống quanh quẽ nơi đây. Tiếng trống thu không, tiếng kiểng mõ đều đặn, thưa thớt nhịp vào không gian thêm quạnh vắng hoang vu . Cảnh ở đây yên tĩnh và đầy bất trắc, đầy rùng rợn với tiếng dội chó ma sủa từ làng xa đi lại. Lấy động để tả tĩnh, Nguyễn Tuân đã dùng âm thanh làm nền để bật lên khung cảnh hoang vu, tĩnh mịch đến lạnh lẽo của chốn tù lao – nơi ngự trị của cái ác và bóng tối, cảm tưởng như lẩn khất đâu đây chỉ toàn những bóng ma, không một chút sự sống. Có âm thanh nhưng chỉ vẳng lại từ xa thưa thớt và heo hắt, có hình ảnh của mặt đất nhưng chỉ thấy thăm thẳm cỏ đẫm sương. Nguyễn Tuân tả cảnh qua đôi mắt nhìn của viên quản ngục – đôi mắt chứa đầy tâm trạng, gợi bao suy tư, trăn trở. Đi qua vùng tâm tưởng ấy, những cái song vô tư bỗng vô hình giam hãm, trói buộc những nhân cách, số phận con người. Những cái song kẻ những nét đen thẳng lên nền trời như vạch ranh giới hư ảo vào chốn ngục tù nơi đây. Trong màn đêm đen bao trùm cảnh vật, điểm vào những mảng sáng nhỏ nhoi của lốm đốm tinh tú, nhưng nếu chỉ có thể thì hẳn chốn tù lao sẽ mãi chìm khuất sau bóng tối dày đặc đang ngự trị. Nhà văn đã điểm vào nền tối ấy, ánh sáng của ngôi sao Hôm nhấp nhầy, ngôi sao ấy như muốn trụt xuống phía chân trời không định, muốn từ biệt vũ trụ. Hình ảnh sao Hôm xuất hiện hai lần với cách nhân hóa gợi ấn tượng về người anh hùng Huấn Cao. Qua con mắt của viên quản ngục, Huấn Cao như một ngôi sao sáng, rực lên giữa cái tối tăm của chốn tù ngục. Hình ảnh ngôi sao Hôm xuất hiện mang vẻ đẹp lung linh hiếm có và giàu chất thơ. Nguyễn Tuân sử dụng bút pháp lấy động để tả tĩnh, thủ pháp đối lập, dựng lên khung cảnh chốn tù lao hoang vắng, yên tĩnh. Cảnh tĩnh nhưng không chết, âm thanh, màu sắc kết nối với nhau bằng những sợi dây vô hình, toát lên nền ấy là tâm trạng của viên quản ngục.

chữ người tử tù

Quản ngục xuất hiện trong cái dáng người lặng lẽ đầy ưu tư trăn trở. Dường như ngục quan đang bâng khuâng mề hoàn cảnh sống của mình giữa chốn tù lao bức bối trói buộc con người trói buộc nhân cách đang khát khao cái đẹp. Quản ngục trân trọng và cảm phục Huấn Cao bởi tài hoa và khí phách anh hùng, âm thầm tiếc nuối cho một nhân cách lớn sắp rơi vào tay tử thần. Cái nhìn của ngục quan hướng tới ngôi sao Hôm cũng là cái nhìn hướng đến cái đẹp, cái cao cả của tâm hồn. Bởi vậy mà giữa cái tối tăm của ngục tù, ngục quan vẫn hiện lên với vẻ đẹp của con người lương thiện, khao khát cái đẹp và trân trọng người tài là một âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản làng mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ. Khơi được nét tâm trạng này của quản ngục, Nguyễn Tuân càng khẳng định thêm sức tỏa sáng của hình tượng Huấn Cao. Chính tài hoa và khí phách anh hùng của Huấn Cao đã đánh thức một tâm hồn lâu nay ngủ quên trong bóng tối để tâm hồn ấy tìm được trái tim đồng cảm, tri âm, tri kỉ. Phải chăng đó cũng là một ngôi sao sáng giữa màn đêm đen?

Trong cảnh cho chữ có một hình ảnh kì diệu: “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ”. Ánh sáng bó đuốc ấy chính là ánh sáng của thiên lương mà tử tù đang chiếu lên và lay tỉnh ngục quan. Chi tiết ngục quan “khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng” chi tiết ngục quan vái tử tù một vái, nước mắt rỉ vào kẽ miệng nghẹn ngào nói: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” là những chi tiết thú vị. Lúc sở thích nghệ thuật đã mãn nguyện cũng là lúc ánh sáng thiên lương soi tỏ, chiếu rọi tâm hồn. Một cái vái lạy đầy nhân cách, hiếm có.

Có thể, sau khi Huấn Cao bị giải vào Kinh thụ hình thì cũng là lúc ngục quan trả áo mũ “tìm về quê nhà mà ở” để giữ lấy thiên lương “cho lành vững” và thực hiện cái sở thích chơi chữ bấy nay? Nguyễn Tuân đã xây dựng ngục quan bằng nhiều nét vẽ có thần. Ngoai hình thì “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu”. Một con người ưa sống hằng nội tâm: cái đêm hôm trước đón nhận tử tù, ông sống trong trạng thái thanh thản, gương mặt ông ta “là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ”. Trong một xã hội phong kiến suy tàn, chốn quan trường đầy rẫy kẻ bất lương vô đạo, nhân vật ngục quan đúng là một con người vang bóng. Nhân vật này đã thể hiện sâu sắc chủ đề tác phẩm.

Đoạn văn là sự kết hợp giữa cảnh và tình. Cảnh được khúc xạ qua tình và tình được bật lên từ cảnh. Nghệ thuật phục bút của Nguyễn Tuân cùng việc sử dụng lớp từ cổ: nội cỏ, thành phủ, tiếng kiễng, tiếng mõ canh đã tạo được không khí truyện, đưa người đọc trở về thời xa xưa. Đoạn văn mang đậm phong khí cổ điển với chất văn đỉnh đạt và bút lực tài hoa. Chỉ một đoạn văn ngắn, Nguyễn Tuân đã tạc thêm một ít hồn xưa vào lòng người.

Bài nên xem

Phân tích tác phẩm “Xin lập khoa luật”- Nguyễn Trường Tộ

Đề bài : Phân tích tác phẩm “Xin lập khoa luật”- Nguyễn Trường Tộ (văn …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Copy Protected by Chetan's WP-Copyprotect.