Home / Văn 11 / Phân tích bài “Một thời đại trong thi ca” trích “Thi nhân Việt Nam “ của Hoài Thanh

Phân tích bài “Một thời đại trong thi ca” trích “Thi nhân Việt Nam “ của Hoài Thanh

Đề bài: Phân tích bài “Một thời đại trong thi ca” trích “Thi nhân Việt Nam “ của Hoài Thanh.

Bài làm

“Một thời đại trong thi ca”là bài tiểu luận ở phần đầu cuốn “Thi nhân Việt Nam”- một cuốn phê bình văn học nổi tiếng của Hoài Trân và Hoài Thanh thế kỉ XX. Đây là một công trình nghiên cứu thành công xuất sắc trong việc đưa ra bản chất, nguyên nhân, biểu hiện của thơ mới- một hiện tượng văn học đặc biệt độc đáo tồn tại trong khoảng thời gian từ 1932 đến 1945. “Một thời đại trong thi ca” ra đời khi thơ mới đã xuất hiện từ lâu trên văn đàn. Bài tiểu luận nhìn nhận , đánh giá thơ mới với vai trò và chức năng là một bộ phận của nền văn học. Bài tiểu luận ra đời khi phê bình và lí luận văn học chưa được thực sự xem trọng.Thậm chí vẫn có quan niệm xem đây là một hình thức chính luận, chính trị không liên quan đến văn học thì “Một thời đại trong thi ca” đã thực sự đưa phê bình và lí luận văn học trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn học.
“Hoài Thanh và Hoài Trân là tác giả của “Thi nhân Việt Nam” nhưng trước hết họ là những người yêu mới, cổ động cho thơ mới .Có lẽ chính vì tình yêu với thơ mới mà “Thi nhân Việt Nam” cũng như “Một thời đại trong thi ca” trở thành mạch cảm xúc của tác giả. Nó không chỉ thể hiện tình yêu mà còn thể hiện sự hiểu biết cũng như năng lực cảm thụ với thơ mới.

mot-thoi-dai-trong-thi-ca
Một thời đại trong thi ca

“Một thời đại trong thi ca” là một bài tiểu luận có kết cấu chặt chẽ, hệ thống lập luận thống nhất xoay quanh hai luận điểm, đó là mục đích, phương pháp nghiên cứu thơ mới và đặc điểm thơ mới. Bài tiểu luận đã dựa trên cách phê bình, đánh giá bằng việc đặt hai sự việc, hai hiện tượng cạnh nhau sau đó tìm các đặc trưng tiêu biểu.
Để nghiên cứu thơ mới một cách khách quan, đúng đắn nhất thì phải có cái nhìn thực sự công bằng giữa thơ mới và thơ cũ để thấy rằng : thơ mới và thơ cũ có một khoảng giao thoa rất lớn. Có nghĩa là trong thơ mới vẫn còn rơi rớt lại ít nhiều cái cũ như ước lệ, tượng trưng mà câu thơ của nhà thơ được xem là mới nhất của nhà thơ mới :
“Người giai nhân bến đợi dưới cây già
Tình du khách thuyền qua không buộc chặt”
Và thơ cũ cũng đã manh nha những yếu tố mới như cái hồn nhiên, nhí nhảnh trong câu thơ:
“Ô hay cảnh cũng ưa người nhỉ
Ai thấy ai mà chẳng ngẩn ngơ”
Thơ mới và thơ cũ đều có giá trị khác nhau. Thơ mới không chỉ hoàn toàn những bài thơ hay, toàn những tư tưởng tiến bộ, hình thức mới lạ mà vẫn có những bài không hay. Ngược lại, thơ cũ không phải toàn trần ngôn, sáo ngữ, công thức mà cũng có thậm chí là có rất nhiều những tác phẩm hay.
Khi tìm hiểu một trào lưu văn học, một giai đoạn văn học thì phương pháp nghiên cứu là vô cùng quan trọng bởi nếu không có phương pháp đúng đắn thì kết quả nghiên cứu sẽ không khách quan.Vì vậy, Hoài Thanh đã sử dụng phương pháp so sánh dựa trên cái hay, cái tiêu biểu của từng thời kì bởi theo ông, cái dở không đại diện cho bất cứ một điều gì. Nghĩ là nghiên cứu thơ mới, tác giả so sánh cái hay của thơ mới và cái hay của thơ cũ. Cũng để nghiên cứu thơ mới, Hoài Thanh sử dụng phương pháp đại thể để từ đó so sánh thời đại với thời đại và không so sánh cá nhân với cá nhân.
Từ hai phương pháp trên, Hoài Thanh đã tìm ra đặc điểm của thơ mới.Tìm hiểu đặc điểm của thơ mới chính là tìm hiểu tinh thần thơ mới để phân biệt thơ mới và thơ cũ. Luận điểm đặc điểm của thơ mới là nội dung chủ đạo của bài tiểu luận. Vì lẽ nên, khi tìm hiểu đặc điểm thơ mới, Hoài Thanh đã lần lượt đưa ra các luận cứ sau: Bản chất của thơ mới , Hoài Thanh đã chỉ ra bản chất của thơ mới là chữ tôi đối lập với bản chất của thơ cũ là chữ ta. Đặc điểm của thơ mới hay chính là đặc điểm của chữ tôi. Trong bài tiểu luận , Hoài Thanh đã khẳng định “Ngày thứ nhất ai biết đích là ngày nào chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam”. Như vậy, thời gian xuất hiện của chữ tôi là không thể xác định bởi gắn với nó là một quan niệm hình thành, manh nha từ trước đó rất lâu.
Bản chất của chữ tôi chính là quan niệm cá nhân- một quan niệm mới mẻ bởi nó chưa từng có ở chốn non nước lặng lẽ này khi con người Việt Nam trước đó tồn tại với cộng đồng, lớn hơn là quốc gia, nhỏ là gia đình.
Hoài Thanh so sánh chữ tôi trong thơ mới với chữ ta trong thơ cũ để nhận thấy khi tồn tại với chữ ta sẽ sản sinh ra các tác phẩm mang quan niệm cộng đồng còn khi tồn tại với chữ tôi, tác phẩm sẽ mang theo quan niệm cá nhân. Đây là quan điểm khác biệt nhất giữa thơ mới và thơ cũ.
“Một thời đại trong thi ca” làm xuất hiện con người cá nhân riêng lẻ, đơn lẻ hay nói cách khác là giải phóng cá nhân ra khỏi cộng đồng để con người tồn tại thực sự là mình. Lúc đầu , người ta thấy xa lạ với chữ tôi, thậm chí còn nghi kị, ác cảm với nó vì nó mang tho một thứ chưa từng có, chưa từng tồn tại nhưng lâu dần người ta thấy quen, thậm chí người ta còn thấy thương nó bởi vừa ra đời, chữ tôi trong thơ mới đã gắn ngay với những bi kịch. Bi kịch của chữ tôi cũng chính là bi kịch của tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ. Bi kịch của chữ tôi cũng chính là bi kịch của thời đại, của con người cá nhân trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, thân phận nô lệ. Bi kịch đó, các tác giả đã gửi gắm vào thơ như gửi gắm nỗi niềm. Bi kịch lạc lõng là bi kịch có ngay từ khi cái tôi ra đời. Chữ tôi bỡ ngỡ, bơ vơ như lạc loài nơi đất khách bởi từ xưa đến nay nó vẫn gắn với chữ anh, chữ bác, chữ ông. Bi kịch của thơ mới tạo nên nỗi cô đơn trong thơ mới tới một người say đắm yêu đương như Xuân Diệu cũng than thở :
“ Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng qua
Hai người nhưng chẳng hết bơ vơ”
Đó là một bi kịch khi thi nhân mất cốt cách hiên ngang ngày trước: Chúng ta với họ rộng quá, tâm hồn họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ “tôi”. Nhưng chữ “tôi” lại không được xem trọng, lại bị cảnh nô lệ lầm than làm cho điêu đứng. Chữ “tôi” càng trở nên nhỏ nhoi, tội nghiệp. Nếu trong thơ cũ các nhà thơ chỉ coi thơ ca là thú tiêu khiển để bình, để tặng thì đến thơ mới, thơ ca là một thứ “hàng hóa”, nhà thơ sống bằng thơ. Bi kịch cơm áo cũng trở thành một thứ bi kịch mà họ khó có thể vượt qua nên nhà thơ ngỡ như chỉ biết yêu như Xuân Diệu cũng thở than cảnh nghèo :
“ Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ”
Bi kịch lòng tin trong thơ mới chính là bi kịch thiếu một lòng tin đầy đủ. Hay nói cách khác là thơ thời nay thiếu một điểm tựa cho tâm linh. Thơ thời xưa có đủ niềm tin nên dù bị oan khuất, đau đớn thì họ vẫn có vẫn tìm được một cái gì chắc chắn không xê dịch.Thơ mới thiểu một niềm tin nên bơ vơ, lạc lõng đến mức không thể tin chính bản thân mình:
“Ai chỉ dùm ta, ta có, có ta không”
Giải phóng bi kịch hay nói cách khác là con đường để thơ mới thoát li hiện thực đau thương. Trước đây, trong thơ cũ, con người tồn tại với cộng đồng nên dù có đau đớn, oan khuất đến đâu thì họ vẫn có cộng đồng để nương tựa. Nhưng đến thơ mới, con người tồn tại với tư cách cá nhân, họ không có và không thể lấy cộng đồng làm điểm tựa được. Vì vậy , khi cô đơn lúc bế tắc họ chỉ còn cách tìm một nơi, một điều gì đó để giải phóng mình khỏi bi kịch.
Thoát li bằng cách chạy trốn vào cõi tiên.Đó là một thế giới mơ mộng, đẹp đến lung linh mà thơ mới, đặc biệt là Thế Lữ đắm mình vào đó để quên đi nỗi đau hiện tại:
“Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ”
Chạy trốn vào tình yêu giống như Lưu Trọng Lư, coi tình yêu là cõi đẻ mình ẩn lại, lại có người trốn vào sự điên cuồng như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên. Chưa hết, để thoát li khỏi thực, có người chìm mình vào trong đắm say. Tuy nhiên, con đường thoát li không trọn vẹn vì động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng say rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Đến đây chữ tôi trong thơ mới thật sự bế tắc. Họ phải tìm một lối khác, một cách khác để thể hiện cá nhân và cá thể của mình.
Nếu coi thơ mới là hiện đại , tiến bộ thì khi đi đến tận cùng sự bế tắc, các nhà thơ mới lại tìm cách giải phóng khỏi bi kịch bằng việc quay lại với thời xưa, với thơ cũ để tạo cho mình một niềm tin: tìm về dĩ vãng để dựa vào những gì bất diệt đủ để cho ngày mai. Hay nói cách khác là tìm về với thời xưa đểtìm nghị lực sống cho ngày nay.
Bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca hấp dẫn, lôi cuốn và làm rung động tâm hồn bao thế hệ người đọc bởi phương pháp lập luận khoa học, chặt chẽ và văn phong tài hoa, tinh tế, giàu cảm xúc của tác giả. Hoài Thanh đã giúp chúng ta thêm hiểu biết và trân trọng những sáng tạo và có cách đánh giá thấu tình đạt lí đối với trào lưu Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Điểm thành công nữa của bài văn là cách dẫn dắt vấn đề rất tự nhiên, linh hoạt. Hoài Thanh dẫn dắt ý văn chủ yếu bằng ngôn ngữ đời sống, nương theo mạch liên kết của cảm xúc thẩm mĩ. Đoạn trích được diễn đạt bằng cảm xúc, bằng hình ảnh và bằng ngôn ngữ thơ ca tinh tế, uyển chuyển, du dương. Hoài Thanh xứng đáng là “Nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại”. Tác dụng của cuốn Thi nhân Việt Nam đối với đời sống văn học trong nhiều thập kỉ qua là rất lớn. Bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca của ông được mọi người thưởng thức, học tập và coi đó là một mẫu mực về nghị luận văn chương.

Bài nên xem

Tóm tắt truyện Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân

Đề bài : Tóm tắt truyện Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân ( Văn lớp 11) …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Copy Protected by Chetan's WP-Copyprotect.