Home / Văn 9 / Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Đề bài: Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.

Bài làm

Bài thơ “Ánh trăng” in trong tập thơ cùng tên, được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978, tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ là lời nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị mà hiền hậu.Từ đó gợi nhắc người đọc có thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ.

  Nguyễn Duy là thế hệ nhà thơ quân đội trưởng thành trước cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bài thơ “Ánh trăng”là câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Dòng cảm xúc của nhà thơ cũng được bộc lộ theo mạch tự sự.Theo dòng tự sự ấy mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ.

 Hai khổ thơ đầu tiên của bài thơ là những cảm xúc của tác giả về kỉ niệm , tình cảm với vầng trăng trong quá khứ. Khổ thơ đầu tiên đã đưa tác giả trở lại quá khứ , những ngày tháng chiến đấu cùng đồng đội ở chiến khu . Cả một quãng thời gian dài có biết bao kỉ niệm đẹp với trăng. Khổ thơ đầu mở ra một khoảng không gian, thời gian bao la:

“Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ.”

Cuộc sống vất vả gian lao nhưng gần gũi với thiên nhiên” với đồng”, “với sông”, “với bể”, “với rừng”. Qua khổ thơ đầu tiên là những kỉ niệm về cuộc sống của tác giả khi có ánh trăng là “tri kỉ”. Nơi chiến trường khốc liệt của bom đạn thì người bạn đó luôn chia sẻ mọi vui buồn và còn xoa dịu nỗi đau của chiến tranh. Trăng còn là đồng chí với các chiến sĩ trên mọi nẻo đường khó khăn nơi chiến trường:

“Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa.”

Ở đây vầng trăng được nhân hóa để trở thành người bạn tri kỉ với nhân vật trữ tình của bài thơ. Với sự gắn bó tình nghĩa ấy nhà thơ đã từng tâm niệm “không bao giờ quên”. Qua từ “ngỡ” tác giả như ngầm muốn cho người đọc hiểu được có những bất ngờ sẽ xảy ra trong những câu thơ tiếp theo trong mạch cảm xúc.    Khổ thơ thứ ba đưa người đọc trở về hiện tại với những đổi thay trong mối quan hệ của nhà thơ với vầng trăng:

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện ,cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường”.

  Tác giả đã tạo ra sự đối lập về hoàn cảnh sống của con người trong hiện tại và quá khứ.Cụm từ “Ánh điện- cửa gương” là cách nói biểu thị cho cuộc sống sau khi kết thúc chiến tranh. Đó là một cuộc sống tiện nghi đầy đủ, xa dời thiên nhiên, không còn hòa chung là một như trước nữa. Trước đây con người sống với sông, đồng, bể, rừng, thiên nhiên, còn giờ đây lại sống với những tiện nghi đầy đủ: ánh điện, cửa gương, phòng gym.

anh-trang-nguyen-duy
Ánh trăng – Nguyễn Duy

Qua đó Nguyễn Duy đã cho ngời đọc thấy được sự thay đổi trong tình cảm của con người, mà ở trong nhân vật trữ tình này là người chiến sĩ ,họ đã quên mất người tri kỉ xưa kia. Những dòng thơ như lời tâm tình, giãi bày rất thủ thỉ mà mộc mạc nhưng cũng đầy sâu lắng trong tâm hồn con người. Nhịp thơ chậm, những chữ đầu câu thơ không viết hoa diễn tả dòng suy nghĩ miên man của nhà thơ.

  Khổ thơ tiếp theo là một tình huống bất ngờ xảy ra làm chuyển mạch cảm nghĩ của tác giả. Lãng quên vô tình  có thể là mãi mãi nếu không có một bất ngờ. Hoàn cảnh bài thơ được đẩy đến bước ngoặt mới khi “thình lình đèn điện tắt”. Tác giả đã rất khéo léo khi đưa ra một tình huống thử thách nhân vật trữ tình. Đây cũng là một tình huống vô cùng gần gũi, quen thuộc nhưng qua đó đã thể hiện được tâm trạng của nhân vật trữ tình , từ đó bộc lộ những cảm xúc, chủ đề của tác phẩm.

“Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn-đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn.”

  Bốn câu thơ với hai từ “thình lình, đột ngột” được đảo trật tự , tạo nên nhịp thơ nhan, nhấn mạnh sự việc bất thường:” đèn điện tắt, phòng tối om” đối lập với “vầng trăng tròn” tỏa sáng. Tình huống bất ngờ đã tạo nên sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối. Cuộc sống nơi thành phố khác xa so với khi còn ở chiến khu lúc trước. Đó là cuộc sống hiện đại với ánh điện, cửa gương,phòng buyn-đinh, con người trở nên bận rộn không để ý đến mọi thứ xung quanh nữa.

Và trong cuộc sống hổi hả đó, tác giả đã đưa ra tình huống “đèn điện tắt” thì con người đã nhận ra được nhiều điều. Trong khoảnh khắc bóng tối bao trùm lấy mọi thứ thì chỉ có ánh trăng sang tròn

Khi có nhiều thứ bận tâm hơn thì người ta sẽ quên đi những điều xưa cũ.Và ánh trăng là thứ đã bị lãng quên trong cuộc sống đó. Chỉ đến khi đèn điện tắt thì nhân vật trữ tình mới có dịp đối diện với “vầng trăng tròn”. Ánh trăng lúc này sáng rực rỡ,đẹp đẽ, tròn đầy và gợi cho người ta nhớ về những kỉ niệm ngày xưa kia.

  Hình tượng vầng trăng và cảm xúc, suy ngẫm của nhà thơ được thể hiện qua  hai khổ thơ cuối. Khổ thơ thứ năm diễn tả sự xúc động mãnh liệt của nhà thơ:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng.”

Nhà thơ lặng lẽ đối diện với trăng trong tư thế lặng im có thành phần thành kính. Từ “mặt” cuối câu thơ là từ nhiều nghĩa , tạo nên sự đa dạng nghĩa của ý thơ.Nhà thơ đối diện với mặt trăng, người bạn tri kỉ mình đã lãng quên, vầng trăng đối diện với con người hay nói cách khác là quá khứ đối diện với hiện tại,  thủy chung tình nghĩa đối diện với bạc bẽo, vô tình và lãng quên để tự thú về sự bội bạc của mình. Từ láy “rưng rưng”đã thể hiện sự xúc động vì quá khứ lãng quên, vì những kỉ niệm chợt ùa về với nhân vật trữ tình.

 Cuộc sống hiện tại như ngừng lại để con người soi vào quá khứ, vào một thời họ đã lãng quên –soi vào chính mình. Có quá khứ xa và gàn, đất nước và quê hương, thiên nhiên và cuộc sống, lao động và chiến đấu, tập thể và cá nhân.  Bên cạnh đó, trăng còn gợi lên hình ảnh của hiện tại để nhắc nhở về một quá khứ đã vất vả, hi sinh để có được như ngày hôm nay. Tất cả làm cho người đọc thực sự xúc động và hòa chung cảm xúc với trữ tình của bài thơ.

  Khổ thơ cuối thể hiện những suy ngẫm sâu sắc và triết lí nhân sinh của nhà thơ qua hình tượng trăng.

“Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình.”

Trong cuộc gặp lại không lời này trăng và người như có sự đối lập. Trăng đã trở thành biểu tượng cho sự bất biến, vĩnh hằng không thay đổi. “Trăng cú tròn vành vạnh”, biểu tượng cho sự tròn đầy, thủy chung, trọn vẹn của thiên nhiên, quá khứ, dù cho người đó có đổi thay “vô tình”.

  Ánh trăng còn được nhân hóa “im phăng phắc” không một lời trách cứ, gợi liên tưởng đến cái nhìn nghiêm khắc mà bao dung, độ lượng của người bạn thủy chung, tình nghĩa, nhắc nhở nhà thơ và mỗi chúng ta : con người có thể vô tình quên nhưng thiên nhiên tình nghĩa quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. Tình cảm của trăng, tấm lòng  của trăng chín là tình cảm của những người đồng đội, của đồng bào, của nhân dân. Sự im lặng ấy làm nhà thơ “giật mình” thức tỉnh, cái giật mình của lương tâm nhà thơ thật đáng trân trọng, nó thể hiện sự suy nghĩ, trăn trở đấu tranh với chính mình để sống tốt hơn.

  “Ánh trăng” của Nguyễn Duy gây nhiều xúc động bởi cách diễn tả bình dị như lời tâm sự, lời tự thú, nhắc nhở chân thành, Giọng thơ trầm tĩnh, sâu lắng.Tứ thơ bất ngờ mới lạ. “Ánh trăng”có ý nghĩa sâu sắc, khái quát bởi lời nhắn nhủ không chỉ dành riêng cho những người lính chống Mĩ mà nó còn có ý nghĩa với tất cả mọi người, mọi thời trong đó có chúng ta.

Bài nên xem

Soạn bài Ánh trăng (Nguyễn Duy)

Đề bài : Soạn bài Ánh trăng (Nguyễn Duy)- Ngữ văn 9 Bài làm 1. Trình …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Copy Protected by Chetan's WP-Copyprotect.