Home / Văn 9 / Phân tích bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt

Phân tích bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt

Đềbài: Phân tích bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt.

Bài làm

       Nhắc đến những áng thơ trữ tình của Bằng Việt, bạn đọc không thể không nhắc đến bài “Bếp lửa”. Đây là một trong những thi phẩm đưa cái tên bằng Việt tỏa sáng trên nền văn học Việt Nam 1945-1975.

      Bằng Việt sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Ông làm thơ từ đầu những năm 60 của thế kỷ XIX và thuộc thế hệ trưởng thành của các nhà thơ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Bài thơ “ Bếp lửa” được Bằng Việt chắp bút năm 1963, khi đất nước ta đang trải qua giai đoạn kháng chiến chống Mĩ vô cùng gay go, ác liệt. Lúc này, nhà thơ đang là du học sinh ở nước ngoài, không có cơ hội về thăm quê nên đã trỉ lòng mình trên vần thơ, trang giấy chan chứa nghĩa tình.

     Ba câu thơ đầu đã ngược dòng thời gian, đưa người cháu trở về với những ngày tháng được sống bên bà.

                            “ Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

                             Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

                             Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

      Vào những buổi sáng sớm tinh khôi, khi những hạt sương vẫn còn vấn vương trên từng tàu cau mái rạ thì bà tần tảo dậy sớm nhóm lửa. Đọng lại trong dòng ký ức của người cháu lf hình ảnh “Một bếp lửa chờ vờn sương sớm”. Tác giả đã sử dụng từ láy “chờn vờn” để khắc họa trước mặt bạn đọc hình ảnh một ngọn lửa lúc lên cao lúc xuống thấp, khi mờ khi tỏ hòa quyện trong làn sương buổi sớm. Hình ảnh của ngọn lửa ấy thật phù hợp hồi tưởng của nguoif cháu về bà. Theo dòng hồi tưởng, hình ảnh bếp lửa cứ mỗi lúc lại hiện ra một rõ nét hơn:                

   “ Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”

         Trong câu thơ từ “ấp iu” được sử dụng vô cùng tinh tế và khéo léo. Đây là sự kết hợp giữa hai từ ấp ủ và nâng niu. Từ “ấp iu” đi cùng với từ “nồng đượm” giúp người đọc hình dung ra hình ảnh ngọn lửa mỗi lúc một rõ nét hơn, một tỏ rạng hơn. Qua đó, câu thơ giúp người đọc liên tưởng đến đôi bàn tay khéo léo vun vét cho bếp lửa của bà. Hai câu thơ sử dụng phép điệp từ “một bếp lửa” để nhấn mạnh hình ảnh một bếp lửa cháy sáng lung linh, kì ảo. Đây không chỉ lf bếp lửa có thật, là hơi ấm và ánh sáng có thật mà còn là bếp lửa ấm áp tình yêu thương con cháu của bà. Giữa lúc bếp lửa đang cháy sáng nhất, nồng nàn nhất thì cũng là lúc những kỷ niệm về bà bỗng dội về khiến nhà thơ phải thốt lên thành lời:        “ Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.

       Câu thơ chỉ có một từ “ thương” nhưng tình yêu thương của người cháu lại chảy tràn ra cả câu thơ. Thương bà là thương cho cả cuộc đời khó nhọc mà bà phải chịu đựng. Hình ảnh “nắng mưa” là hình ảnh ẩn dụ cho bao vất vả, lam lũ của cuộc đời bà.Câu thơ là sự dồn nén bao nỗi xúc động, cảm thương và luôn biết ơn của người cháu dành cho bà kính yêu.

beplua-bangviet
Bếp lửa – Bằng Việt

       Năm câu thơ tiếp gợi về cho bạn đọc hình ảnh những năm tháng cả nước đói nghèo trong rơm rạ. Bóng đen của nạn đói năm 1945 đè nagwj lên từng mái nhà của người lao động. Viết về những năm tháng gian khổ ấy, nhà thơ sử dụng cụm từ “đói mòn đói mỏi” để khắc họa cái đòi kéo dài dai dẳng. Cái đói in bóng lên câu thơ của Bằng Việt:

                               “ Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”

        Câu thơ góp phần nhấn mạnh hơn cái đói dai dẳng ấy. Nó vắt kiệt sức lực con người, làm khô héo cả vạn vật. Và ấn tượng sâu đậm nhất còn lại nguyên vẹn trong tâm thức người cháu về những ngày tháng ấy chính là mùi khói bếp mà bà nhen lên mỗi sớm mỗi chiều.Nó không chỉ diễn tả cảm giác cay xè nơi sống mũi khi bị khói lùa vào mà còn như chứa đựng bao xúc động, xót xa của tác giả khi nhớ về những năm tháng ấy. Qua đó chứng tỏ đây là là kỷ niệm sâu đậm không bao giờ phai trong tâm trí tác giả. Những câu thơ đã neo đậu trong tâm hồn bạn đọc, gieo vào lòng ta những xúc động mãnh liệt về một tuổi thơ luôn có bà ở bên.

         Đoạn thơ tiếp đã tái hiện lại kỷ niệm tám năm ròng rã cùng bà nhóm lửa của người cháu xa quê. Đọng lại trong ký ức của người cháu là âm thanh tiếng chim tu hú- một loài chim quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tiếng chim ấy lúc xa lúc gần, khi trầm khi bổng như điểm nhịp vào thời gian, không gian. Không những thế, nó còn gợi ra một khoảng không gian mệnh mông, trống trải chỉ hai bà cháu bên nhau mỗi sớm mỗi chiều. Và cũng trong thời gian ấy, người cháu được đón nhận bao tình cảm tốt đẹp từ bà:

                                 “Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,

                                  Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.”

         Câu thơ đã sử dụng điệp từ “bà, cháu” gợ ra trước mắt người đọc hình ảnh hai bà cháu sớm tối quấn quýt bên nhau không rời. Bà đã thay cha, thay mẹ chăm sóc, dạy bảo cháu từng ly từng tí một.Bởi vây, trong câu tho còn ẩn chứa tình cảm trân trọng, biết ơn mà người cháu dành cho bà. Trong dòng cảm xúc ấy, tác giả lại trào lên bao cảm xúc xót xa:

                               “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”

    Một lần nữa, cảm xúc nhó thương bà lại trào dâng vô cùng mãnh liệt. Thương bà không chỉ là thương cho những khó khắn, vất vả mà bà phải chịu đựng, mà còn là thương cho cả cuộc đời phải gánh vác bao công việc của bà.

        Bảy câu thơ tiếp theo, tác giả đã hồi tưởng lại kỷ niệm giặc đốt làng.Kỷ niệm ấy hiện về rõ mồn một trong tâm trí nhà thơ. Ngôi nhà của hai bà cháu cháy tàn, cháy rụi trong ngọn lửa của giặc. Hàng xóm bốn bề chạy sang giúp đỡ dựng tạm căn nhà che nắng che mưa. Dù có khó khăn là vậy nhưng bà vẫn vững lòng dặn cháu:         “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

                                 Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

                                 Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

      Dặn cháu như vậy nghĩa là bà đã nhận về mình những khó khăn, gian khổ nhất. Câu thơ đã làm sáng lên trong mắt người đọc vẻ đẹp của tình yêu thương con, sẵn sàng hi sinh âm thầm của bà. Rõ ràng, không chỉ là người nhóm lửa, bà còn là người giữ lửa và truyền lửa cho con cháu.

      Ba câu thơ sử dụng điệp từ “một ngọn lửa” và sự chuyển hóa từ hình ảnh bếp lửa sang ngọn lửa đã góp phần nhấn mạnh ý nghĩa công việc nhóm lửa của bà. Đó là ngọn lửa của tình yêu thương, củ niềm tin mãnh liệt mà bà luôn ủ sẵn.Trong đoạn thơ, hình ảnh của người bà bỗng trở nên lớn lao, đẹp đẽ hơn. Bà mang trong mình vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam giàu tình yêu thương con cháu, đồng thời cũng mang niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng của dân tộc. Bà chính là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến phía trước.

        Đoạn thơ tiếp theo là những dòng suy ngẫm sâu sắc của người viết về hình ảnh bà và bếp lửu quê nhà. Mở đầu là lời thơ chan chứa yêu thương:

                             “  Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

                                 Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

                                 Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm.”

        Tác giả đã khéo léo đảo từ “lận đận” lên đầu câu kết hợp với nghệ thuật ẩn dụ “biết mấy nắng mưa” đã góp phần nhấn mạnh nỗi thương cảm xót xa của người cháu khi nghĩ về cuộc đời vất vả của bà. Cả đoạn thơ không hề có chữ thương nào nhưng tình thương vẫn đong đầy nơi dòng chữ. Càng thương bà, người cháu càng thấu hiểu hơn công việc nhóm lửa của bà. Bà “nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm” nghĩa là bà đã truyền cho cháu tình yêu và hơi ấm để cháu vượt qua những năm tháng ấu thơ đầy gian khổ. Không chỉ với cháu, bà còn mở rộng tấm lòng yêu thương với cả những người xung quanh. Cuối cùng, bà thắp sáng lên trong cháu bao niềm tin vào lẽ sống ở đời để cháu thêm mạnh mẽ, trưởng thành cả về vật chất lẫn tinh thần. Trong đoạn thơ, tác giả sử dụng điệp từ “ nhóm” làm âm điệu câu thơ tha thiết sâu lắng lòng người, nhịp thơ dồn dập càng khắc sâu hơn ý nghĩa của công việc nhóm lửa. Chính vì vậy, nghĩ về bếp lửa, Bằng Việt có viết:

                          Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

      Câu thơ dồn nén bao cảm xúc trào dâng mãnh liệt, đồng thời cũng bộc lộ những suy nghĩ của ngừi cháu về bà và bếp lửa. Bếp lửa ấy bình thừng, giản dị nhưng cũng rất đỗi kì lạ, thiêng liêng. Sở dĩ như vậy vì bếp lửa có sức sống lâu bền trong lòng tác giả. Vượt nghìn trùng xa cách về thời gian, không gian, bếp lửa vẫn tỏa sáng tiếp thêm cho người cháu động lực, niềm tin để tiến về phía trước. Hơn thế, hình ảnh bếp lửa còn tô đậm thêm tấm lòng của bà: giàu đức hi sinh, giàu lòng yêu thương con cháu. Hình ảnh bếp lửa trở nên thiêng liêng cũng còn bởi lẽ nó là hình ảnh của một phần quê hương- xứ sở đã nuôi lớn tâm hồn mỗi con người.

     Sau những dòng hồi tưởng ấy, khổ thơ cuối cùng đưa bạn đọc trở về với thực tại của người con xa xứ, người cháu xa quê. Lời thơ mang  âm hưởng của một lời tự sự nhưng cũng thấm đẫm cảm xúc bồi hồi, nhớ thương mãnh liệt. Dấu chấm giữa câu thơ đã tạo nên một khoảng lặng trong dòng cảm xúc nghẹn ngào nhớ thương của nhà thơ. Thêm vào đó, thi nhân còn sử dụng điệp từ “có”, “trăm” đã góp phần diễn tả bước chân xa quê ủa nguoif cháu. Cháu đã tiếp xúc với bao “ngọn khói trăm tàu/ lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả”. Thế giới cứ mở ra trước mắt người cháu với bao sự đổi thay, nhưng duy nhất có một điều không bao giờ thay đổi, đó là tình cảm dành cho người bà kính yêu. Cháu vẫn luôn tự nhủ:                    “ Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

   Câu hỏi khép lại bài thơ đã gói trọn lại bao nỗi niềm của người cháu xa quê. Đoạn thơ có âm điệu dạt dào, chữ nọ gọi chữ kia như những đợt sóng dâng trào, như hơi ấm mỗi lúc một nồng nàn, ấm áp hơn. Tình yêu thương bà cũng nhờ thế mà ngày một trào dâng tha thiết trong lòng người cháu. Bà chính là cội nguồn của tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước để khi cháu khôn lớn trưởng thành vẫn luôn hướng về và coi đó là một điểm tựa tinh thần vững chắc theo thời gian.

Bài nên xem

chuyen-nguoi-con-gai-nam-xuong

Cây lau chứng kiến việc Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vẫn. Viết lại câu chuyện đó theo ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba

Đề bài : Cây lau chứng kiến việc Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Copy Protected by Chetan's WP-Copyprotect.