Home / Văn 10 / Phân tích những bài ca dao hài hước

Phân tích những bài ca dao hài hước

Đề bài: Phân tích những bài ca dao hài hước.

Bài làm

Ca dao, dân ca là những câu thơ, câu hát trữ tình dân gian. Bằng hệ thống chủ đề, hình thức diễn xướng, hình thức nghệ thuật độc đáo, ca dao dân ca phản ánh thế giới nội tâm của con người, những cảm xúc, tình cảm, tâm trạng của con người đối với thế giới khách quan. Tiếng cười là một trong những phương tiện để con người dãi bày tâm sự. Tiếng cười trong ca dao có nhiều cung bậc khác nhau: tiếng cười châm biếm, tiếng cười hài hước, tiếng cười mỉa mai,…
Trước hết, đó là lời đối đáp giữa chàng trai và cô gái nói về việc dẫn cưới và thách cưới:
– Cưới nàng anh toan dẫn voi
Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn
Dẫn trâu sợ họ máu hàn
Dẫn bò sợ họ nhà nàng co gân
Miễn là có thú bốn chân
Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng
– Chàng dẫn thế em lấy làm sang
Nỡ nào em lại phá ngang như là…
Người ta thách lợn thách gà
Nhà em thách cưới một nhà khoai lang:
Củ to thì để mời làng
Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi
Bao nhiêu củ mẻ, chàng ơi!
Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà
Bao nhiêu củ rím, củ hà
Để cho con lợn, con gà nó ăn…
Cưới xin hôn lễ là một việc trọng đại một đời của mỗi con người vì thế mà nó sẽ được chuẩn bị rất chu đáo. Nhưng vật dẫn cưới và vật thách cưới của đôi trai gái trong bài ca dao này lại thật sự khác thường. Thực chất nó là hai màn tự trào về cảnh nghèo của người lao động. Chàng trai dự định dẫn cưới: voi, trâu, bò. Đây đều là những sính lễ sang trọng. Chàng trai muốn dành những gì sang trọng nhất để cưới cô gái về làm dâu. Nhưng lại sợ: quốc cấm, máu hàn, co gân. Ở dây không phải là chàng trai không muốn cô gái nở mày nở mặt bằng một sính lễ thật sang trọng mà chàng trai lo lắng tới tính mạng, quan tâm tới sức khỏe của họ. Sau những đắn đo chàng trai đã quyết định đưa sính lễ là “con chuột béo”. Đây là cách nói độc đáo khiến sính lễ được lựa chọn đầy đủ các tiêu chuẩn về số lượng (bốn chân), chất lượng (béo). Chàng trai đã sử dụng cách nói hóm hỉnh, hài hước, thông minh từ đó thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời của nhân dân lao động. Đáp lại chàng trai cô gái cũng vô cùng duyên dáng. “Lấy làm sang, như là…” đã thể hiện sự tự hào, trân trọng của cô gái. Thế nhưng cô gái ấy lại đưa ra lễ vật thách cưới khác thường, lạ đời: một nhà khoai lang. Lời thách cưới ấy thể hiện mơ ước của người lao động xưa là mùa màng bội thu. Kèm theo lời thách cưới là cách cô gái sẽ dùng lễ vật ấy: “ Củ to” – mời làng; “Củ nhỏ” – họ hàng ăn chơi; “ Củ mẻ” – cho con trẻ ăn chơi giữ nhà; “ Củ rím, củ hà” – cho con lợn, con gà…Điều này cho thấy đây là một cô gái đảm đang, biết lo toan, tính toán. Bài ca dao này muốn mượn cảnh nghèo đói trong gia đình cả hai bên để làm nền bộc lộ vẻ lạc quan dù có nghèo. Tiếng cười ấy hướng vào chính họ nhưng chàng trai, cô gái vẫn vui vẻ, có thể yêu nhau đến chọn đời, tình cảm mộc mạc, chân thành. Từ đó cũng phê phán tục thách cưới, dẫn cưới nặng nề của nhân dân ngày xưa.

ca-dao-hai-huoc
Ca dao hài hước

Bên cạnh những tiếng cưới hài hước, tiếng cười còn có tác dụng châm biếm đả kích. Tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biến, phê phán xã hội.Tiếng cười ấy hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong xã hội. Những tật xấu ở đây tuy không đến mức bị đả kích một cách quyết liệt nhưng trong khi nhẹ nhàng, thân tình nhắc nhở, thái độ của nhân dân ta cũng không kém phần sâu sắc. Hai đối tượng được dẫn ra để cười cợt ở đây là những người chồng lười nhác, vô dụng và những người vợ vô duyên xấu tính nhưng lại ưa nịnh hót.
“Làm trai cho đáng sức trai,
Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng”.
Tác giả dân gian đã sử dụng rất thành công thủ pháp đối lập kết hợp với lối nói khoa trương, phóng đại. “Khom lưng chống gối” là hành động dồn hết sức lực trong khi đó thứ cần phải gánh là “hai hạt vừng”- hai vật quá nhỏ bé. Từ việc nhận thấy được hai thủ pháp nghệ thuật nổi bật của câu ca dao trên đã so sánh một cách kín đáo để chế nhạo những kẻ lười nhác trong xã hội. Thông điệp mà bài ca dao muốn gửi gắm đó chính là con trai thì phải sống mạnh mẽ lên, đa là con trai thì phải làm việc xứng đáng với trai của mình, không được ỷ lại hay nhờ vả người khác khi mình có thể làm. Cùng đề tài với bài ca dao này, một bài khác lại viết:
“Chồng người đi ngược về xuôi,
Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo”.
Nổi bật trong bài ca dao này là biện pháp đối lập: Chồng người – chồng em, Đi ngược – về xuôi, Đi ngược về xuôi – sờ đuôi con mèo. Có thể thấy rằng bài ca dao tiêu biểu cho đối tựng đàn ông vừa lừơi nhác lại vừa không có chí hướng, không có sự nghiệp. Hình ảnh “ngồi bếp sờ đuôi con mèo” cho thấy người đàn ông này ở bếp mà đáng ra đây là công việc của người phụ nữ, đã vậy chỉ ngồi “sờ đuôi con mèo”. Người đàn ông vô tích sự, không dám ra ngoài mà chỉ ở nhà ăm bám, bám váy vợ để sống, không đáng làm một ngừi đàn ông che chở cho gia đình hay là trụ cột của gia đình.
Đến với bài ca dao 4, đối tựơng phê phán ở đây lại là người phụ nữ. Đó là người phụ nữ vô duyên, đỏng đảnh và cả tình yêu mù quáng của người chồng:
Lỗ mũi mười tám gánh lông,
Chồng yêu, chồng bảo: Râu rồng trời cho
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chồng yêu, chồng bảo: ngáy cho vui nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu, chồng bảo: Về nhà đỡ cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu, chồng bảo: Hoa thơm rắc đầu.
Bài cao dao đã vận dụng thành công thủ pháp liên tưởng và phóng đại kết hợp với thủ pháp so sánh: mũi mười tám gánh lông – râu rồng trời cho, ngáy o o… – ngáy cho vui nhà, đi chợ ăn quà – về nhà đỡ cơm, trên đầu rơm rác – hoa thơm rắc đầu. Đây đều là những thói hư tật xấu của người phụ nữ không có ý tứ, vô duyên. Đây là một bức tranh hư cấu tài tình của dân gian, có những chi tiết có thể có trong đời thường, rất thực tế, gắn với cuộc sống sinh hoạt của người lao động như: “ngáy o o”, “hay ăn quà” cũng có những chi tiết không thể có, như: “lỗ mũi mười tám gánh lông”, “trên đầu những rác cùng rơm”. Điểm chung của các hình ảnh dù là hư cấu hoàn toàn hay tái hiện một phần hiện thực này là tất cả đều được phóng đại bằng trí tưởng tượng phong phú của nhân dân. Cấu trúc “ chồng yêu chồng bảo…” cho thấy tác giả dân gian đã nhìn họ bằng con mắt nhân hậu, cảm thông, qua cách nhìn đầy yêu thương của người chồng vì tình yêu với vợ nên tất cả tật xấu của nhân vật đều được so sánh một cách dí dỏm để biến hóa thành hình ảnh đẹp đẽ: lông mũi – râu rồng trời cho; ngáy o o – cho vui nhà; ăn quà – đỡ cơm; rác rơm – hoa thơm.
Có thể nói rằng, ca dao là một loại thơ trữ tình dân gian, là diễn đàn đặc biệt thể hiện hầu như mọi khía cạnh khác nhau, từ bộc trực đến tinh tế nhất trong tâm hồn người dân Việt Nam.Qua lăng kính ca dao, ta có thể hiểu được tình cảm, thái độ, suy tư của người lao động xưa đối với cuộc sống, trong các mối quan hệ xã hội.

Bài nên xem

nhan-nguyenbinhkhiem

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyển Bỉnh Khiêm để thấy triết lí nhân sinh của một nhân cách lớn

Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyển Bỉnh Khiêm để thấy triết lí nhân sinh …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Copy Protected by Chetan's WP-Copyprotect.