Home / Văn 10 / Soạn bài Đọc Tiểu Thanh kí

Soạn bài Đọc Tiểu Thanh kí

Đề bài : Soạn bài Đọc Tiểu Thanh kí (Văn lớp 10)

Bài soạn

  1. Tìm hiểu chung
  2. Tác giả

–         Nguyễn Du ( 1765 – 1820 ) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên.

–          Nguyễn Du người thông minh có tài nhưng xã hội không trọng dụng

–           Cuộc đời gặp nhiều  sóng gió:( 10 tuổi mồ côi cha, 13 tuổi mồ côi mẹ, từ 1789 nếm trải 10 năm gió bụi)

–          Ông đã gặp và chứng kiến số phận bất hạnh của rất người phụ nữ có tài sắc vì vậy ông có mối đông cảm với họ.

  1. Tác phẩm
  2. a) Nàng Tiểu Thanh

–         Là một cô gái có tài, sắc, sống khoảng đầu đời Minh (TQ). 16 tuổi làm lẽ một người họ Phùng. Vợ cả ghen ghét đẩy nàn sống 1 mình trên núi. Nàng đau buồn mà chết ở tuổi 18.

  1. b) Nhan đề bài thơ

Kí: những ghi chép

Tiểu Thanh kí: những ghi chép của nàng Tiểu Thanh.

ð Đọc Tiểu Thanh kí: Đọc những ghi chép của nàng Tiểu Thanh (hay Đọc tập thơ của nàng Tiểu Thanh)

  1. c) Hoàn cảnh sáng tác

–         Bài thơ được Nguyễn Du viết trước khi đi sứ TQ.

  1. Đọc hiểu văn bản
  2. Đọc văn bản
  3. Chủ đề

Bài thơ viết về nàng Tiểu Thanh đồng thời thể hiện những suy tư, trăn trở, tâm sự của tác giả về thân phận của những người tài sắc và của chính bản thân mình.

Đọc Tiểu Thanh kí

III.          Tìm hiểu văn bản

Giới thiệu tìm hiểu văn bản theo hướng 2/4/2.

  1. Hai câu thơ đầu

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư

Độc tiếu song tiền nhất chỉ thư

–         Hoa uyển: vườn hoa (Vườn hoa Tây Hồ: một cảnh đẹp cụ thể) – Dịch thơ: cảnh đẹp: một vẻ đẹp chung chung

–         Tẫn: đến cùng, triệt để, hết – Dịch thơ: Hóa => nhẹ hóa đi chưa lột tả hết được sự biến đổi khắc nghiệt của thời gian.

–         Câu thơ gợi ra một nghịch cảnh giữa quá khư và hiện tại: Vườn hoa bên Tây Hồ nay đã thành bãi đất hoang rồi => Gợi sự xót xa trước sự đổi thay, sự tàn phá của thời gian đối với cái đẹp.

–         Phần dịch thơ đã đánh mất hai chữ “nhất” trong “nhất chỉ thư” và chữ “ độc” trong “độc điếu”, làm giảm đi ý nghĩa của câu thơ.=> Thực ra, “nhất” là một mà “độc” cũng là “một”, nhưng nếu “nhất” là số từ chỉ lượng thì “độc” là trạng từ chỉ tâm thế của nhà thơ. Việc dùng cùng 1 nghĩa qua hai từ khác nhau, Nguyễn Du như muốn nhấn mạnh sự cô đơn nhưng cũng nhấn mạnh cả sự tương xứng trong cuộc gặp gỡ này. Một trạng thái cô đơn gặp một kiếp cô đơn bất hạnh.

ð Sự đồng cảm của Nguyễn Du

Hai câu thơ đề đã mở ra một thứ ngoại cảnh và tâm cảnh . Đó là cái khoảnh khắc suy nghĩ, cảm nhận khi gặp gỡ một con người, một số mệnh.

Kết hợp cả hai câu trên có ý kiến đề nghị một cách dịch nghĩa khác:

(Vườn hoa ở Tây Hồ đã thành gò hoang cả rồi. Một mình xót thương nàng khi đọc một tập sách trước song cửa sổ)

 

  1. Bốn câu thơ tiếp

Chi phấn hữu thần liên tử hậu

Văn chương vô mệnh lụy phần dư

Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vẫn kì oan ngã tự cư

+“Chi phấn” – đồ trang sức của phụ nữ, sau dùng để chỉ giới nữ lưu nói chung.

+“Thần” là thần thái, thần sắc, ở đây chỉ nhan sắc, tài hoa và trí tuệ của Tiểu Thanh

+ “Vô mệnh” không có số mệnh

+ “ phần dư” phần thơ, từ còn sót lại không bị đốt của nàng Tiểu Thanh

–         Son phấn: sắc đẹp

–         Văn chương: tài hoa

ð Ca ngợi sắc đẹp và tài năng của nàng Tiểu Thanh, một con người toàn diện

Son phấn – chôn

Văn chương – đốt

–         “Chôn”, “đốt” là những động  từ cụ thể hóa sự ghen ghét, sự vùi dập phũ phàng của người vợ cả đối với nàng Tiểu Thanh => thái độ của xã hội phong kiến không chấp nhận những con người tài sắc.

ð Triết lí về số phận con người trong xã hội phong kiến: tài hoa bạc mệnh, tài mệnh tương đố, hồng nhan đa truân…cái tài, cái đẹp thường bị vùi dập.

ð Bên cạnh triết lý đó còn có sự ca ngợi, sự khẳng định trường tồn, bất tử của cái đẹp,  tài năng (“vẫn hận, còn vương”)

ð Giá trị nhân đạo sâu xắc của Nguyễn Du, sự xót xa cho những người vì sắc vì tài mà bị hủy hoại.

 

Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vận kì oan ngã tự cư

–         “Cổ kim hận sự”: mối hận xưa và nay, mối hận muôn đời, mối hận truyền kiếp.

–         Mối hận của những người tài hoa mà bạc mệnh.

( Rằng hồng nhan tự thủa xưa

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu

Truyện Kiều)

ð Câu thơ mang tính khái quát cao. Nỗi hận kia không phải là nỗi hận của riêng nàng Tiểu Thanh, của Nguyễn Du mà của tất cả những người tài hoa trong xã hội phong kiến.

–         Thiên nan vấn: khó mà hỏi trời được.

ð Câu thơ thể hiện sự đau đớn phẫn uất cao độ trước một thực tế vô lí: người có sắc thì bất hạnh, nghệ sĩ có tài thường cô độc. ( Bởi vậy nên thường có sự đồng cảm trong những cuộc gặp ỡ của tài tử giai nhân)

Phong vận kì oan ngã tự cư

( Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lung vì nết phong nhã)

–         Kì oan: nỗi oan lạ lùng

ð Nỗi oan do “nết phong nhã” gây ra. Vì có “nết phong nhã” mà mắc “oan khiên’ thì thật là điều nghịch lý, trái ngang của cuộc đời.

–         Ngã: ta (từ chỉ bản thể cá nhân táo bạo so với thời đại Nguyễn Du sống). Nguyễn Du không đứng bên ngoài mà nhìn vào nữa mà giờ đây ông chủ động tìm sự tri âm với nàng, với những người tài hoa bạc mênh.

 

3.Hai câu cuối:

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

–         Nghệ thuật: Câu hỏi tu từ

ð Nguyễn Du khóc nàng Tiểu Thanh và băn khoăn, khóc cho chính mình.

Nguyễn Du như muốn nói với Tiểu Thanh, hôm nay ta khóc nàng cách ta ba trăm năm. Ba trăm năm sau ai là người khóc ta? Một câu hỏi da diết, câu hỏi lớn, đậm chất nhân văn. Nguyễn Du hỏi Tiểu Thanh mà như hỏi người, hỏi mình.

–         “Khấp”: khóc. Tiếng khóc là dấu hiệu mãnh liệt nhất của tình cảm, cảm xúc thương thân mình, thân người trào lên mãnh liệt không kìm nén được.

–         Chữ “khấp”(khóc) mà Nguyễn Du sử dụng trong câu thơ cuối rất tinh tế. Nó thừa tiếp và cụ thể hóa chữ “điếu” (viếng) ở câu thơ thứ 2. Ông không viết đơn thuần mà khóc cho Tiểu Thanh. Ông băn khoăn không biết hậu thế ai sẽ khóc ông.

 

ð Thể hiện nỗi cô đơn của nghệ sĩ lớn “Tiếng chim cô lẻ giữa trời thu khuya” (Xuân Diệu). Ông thấy mình lạc lõng ở hiện tại và đã tìm thấy được một người tri kỉ ở quá khư nhưng vẫn mong ngóng một tấm lòng trong tương lai.

ð Tấm long nhân đạo mênh mông vượt qua mọi không gian và thời gian.

  1. Tổng kết
  2. Nội dung

–         Thể hiện cảm xúc, suy tư của Nguyễn Du về số phận bất hạnh của người phụ nữ có tài có sắc trong xã hội phong kiến.  Chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc trong sáng tác của Nguyễn Du.

  1. Nghệ thuật

–         Thể thất ngôn bát cú đường luật

–         Nghệ thuật đối, câu hỏi tu từ…

ð Thể hiện được dòng vận động nội tâm của tác giả: thương người, đồng cảm với người rồi thương mình.

Bài nên xem

nhan-nguyenbinhkhiem

Soạn bài “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Soạn bài “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm (Văn lớp 10). Bài làm Câu 1: Cách …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Copy Protected by Chetan's WP-Copyprotect.